Truy cập nội dung luôn

 

Phát triển HTX phải được đặc biệt coi trọng “Nuôi dưỡng” hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị Không để các hợp tác xã tồn tại hình thức HTX trong xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu nông nghiệp Gỡ rào cản chính sách để phát triển hợp tác xã (Kỳ 1) Hoàn thiện hành lang pháp lý cho các quỹ HTX địa phương Phát triển hợp tác xã ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh Hợp tác xã nông nghiệp Đông Thắng - Liên kết để cùng thắng Tập huấn Luật Hợp tác xã năm 2012 Vai trò của công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý hợp tác xã

Mô hình nào cho HTX cung ứng RAT?

Trong bối cảnh “nóng” vấn đề an toàn thực phẩm, khảo sát nghiên cứu mới đây của Ban Kế hoạch Hỗ trợ (Liên minh HTX Việt Nam) đề xuất ít nhất có 3 công thức HTX liên kết sản xuất và tiêu thụ rau an toàn (RAT), đó là HTX liên kết thành Liên hiệp HTX, HTX liên kết với DN và hộ gia đình, HTX liên kết đa chức năng theo kinh nghiệm Nhật Bản và Hàn Quốc.

Theo nghiên cứu của Ban Kế hoạch Hỗ trợ, những chính sách hiện hành liên quan đến hoạt động liên kết HTX bao gồm Nghị định 210/2013, Quyết định 63/2013, Quyết định 01/2013, Quyết định 80/2002… và đặc biệt là Quyết định 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn.

Thực trạng liên kết RAT

Khảo sát kinh tế hợp tác (KTHT), số liệu đáng chú ý trong khoảng 11.000 HTX nông nghiệp có 96,4% HTX đã và đang liên kết làm cầu nối giữa hộ dân trực tiếp sản xuất RAT với DN chế biến tiêu thụ, có 32% HTX liên kết kinh doanh RAT với nhau… Ngoài ra, trong 16 Liên hiệp HTX nông nghiệp cả nước, có 94% liên hiệp thực hiện được liên kết với các HTX thành viên khép kín hơn sản xuất và cung ứng RAT.

Thực tế, mối liên kết sản xuất và tiêu thụ RAT theo VietGap thông qua HTX còn nhiều mặt hạn chế. Đó là sự phối hợp lẫn nhau trong HTX giữa các khâu chưa chặt chẽ, chưa có trách nhiệm trong tổ chức phối hợp. Liên kết giữa HTX với các đối tác nước ngoài còn mờ nhạt. Hoạt động liên kết chủ yếu nhỏ lẻ, phạm vi hẹp nên hiệu quả kinh tế chưa cao. Trong khi đó, các nội dung liên kết rất đa dạng, nhưng các HTX mới chú trọng sản xuất mà chưa chú ý đầu ra cung ứng tiêu thụ.

Liên kết cung ứng tiêu thụ RAT thông qua HTX hiện đang khó bởi chính sách hướng dẫn còn thiếu hoặc chưa phổ biến rộng rãi. Nhận thức và năng lực cán bộ HTX về liên kết còn yếu. Trong khi thị trường biến động luôn là trở ngại chi phối các hoạt động liên kết, thì nguy cơ rủi ro trong lĩnh vực nông nghiệp và liên kết sản xuất nông nghiệp thường tác động lớn khi giá cả nông sản tăng cao.

Một khó khăn nữa, là nhiều HTX yếu thiếu nguồn lực nên cơ sở vật chất, thiết bị máy móc đều cũ kỹ và lạc hậu, làm tăng chi phí sản xuất và hạn chế đáng kể sức cạnh tranh của HTX, Liên hiệp HTX về chất lượng RAT.

Thực tế nhìn từ HTX

Viện KTHT (Liên minh HTX Việt Nam) vừa triển khai dự án có mục tiêu đánh giá và hoàn thiện hai mô hình HTX “điểm” liên kết RAT ở Bắc Giang, là HTX Dịch vụ Quang Trung (xã Lan Giới, huyện Tân Yên) và HTX Nông nghiệp Hưng Thịnh (xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa).

Mô hình “điểm” thứ nhất, đại diện HTX Quang Trung cho biết, chỉ sau hai năm hoạt động, HTX đã mở rộng từ 7 thành viên đến nay tới 32 thành viên. HTX liên kết với công ty GOC khép kín quy trình sản xuất tiêu thụ các loại RAT chính là dưa bao tử, dưa Xuân Yến, khoai tây, ngô ngọt và ớt. Nhờ hoạt động của HTX, trên địa bàn xã Lan Giới có nhiều hộ làm kinh tế giỏi, nông sản làm ra được thu mua trọn gói, nông dân không phải mang ra chợ bán như trước.

Tại mô hình “điểm” thứ hai, HTX Nông nghiệp Hưng Thịnh, có nguồn vốn trên 1 tỷ đồng, 10 hộ thành viên và vùng rau 10ha. Năm 2016, HTX ký bao tiêu cũng với công ty GOC tiêu thụ 500 tấn dưa và 100 tấn ớt cho hiệu quả rất cao, tổng doanh thu dưa và ớt là 3,1 tỷ đồng, cho tổng lợi nhuận 2,452 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Văn Hưng - Giám đốc HTX Hưng Thịnh, cho rằng việc HTX liên kết với hộ dân có tác động nhiều phía tùy sự chỉ đạo của các cấp ngành. Nhưng liên kết này trước hết là sự hỗ trợ, làm lợi cho nông dân và HTX. Điều quan trọng là HTX phải thay mặt nông dân chủ động tìm thời cơ và đầu mối liên kết, còn tạo động lực chính thúc đẩy liên kết là lợi ích của các bên tham gia.

Theo dự án của Viện KTHT, DN có vai trò rất rõ trong liên kết các HTX cả đầu vào và đầu ra RAT. Các nguồn lực đất đai, lao động, vốn, kỹ thuật và công nghệ, tài nguyên và tiểu khí hậu… là những yếu tố cơ bản để HTX có thể tiến hành mọi hoạt động liên kết RAT. Quy mô và chất lượng các nguồn lực này sẽ quyết định hiệu quả sản xuất và kinh doanh RAT của HTX.

Thực tế HTX tiêu thụ qua các kênh nhà máy chế biến rau quả, hệ thống siêu thị, cửa hàng và bếp ăn tập thể. Ngoài ra, HTX còn tiêu thụ đa dạng qua kênh bán buôn, bán lẻ khác.

Dự án của Viện KTHT nhận định uy tín và thương hiệu RAT ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của HTX, đồng thời cũng khẳng định thị trường tiêu thụ RAT là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mô hình HTX chuyên ngành này.

Lưu Đoàn
Nguồn: TBKD